Chẩn đoán và các biến chứng của bệnh viêm sụn vành tai09/05/2017 - 0

Chẩn Đoán:

Để có hướng điều trị đúng, cần phải có kết luận chẩn đoán thật chính xác. Vì đây là căn bệnh có sự liên quan phức tạp, vì vậy, cơ sở chẩn đoán sẽ như sau:

Theo tiêu chuẩn lâm sàng

Sinh thiết mô

Bệnh nhân có ba hoặc nhiều mục sau đây có thể được chẩn đoán bị viêm sụn vành tai:

Viêm tai ngoài hai bên

Viêm đa khớp

Viêm khớp

Viêm mắt

Viêm đường hô hấp

Nghe bất thường hoặc rối loạn chức năng tiền đình.

Nếu chẩn đoán lâm sàng không rõ ràng, sinh thiết của sụn bị ảnh hưởng có thể hỗ trợ chẩn đoán, nhưng nó hiếm khi được sử dụng.

   Các xét nghiệm thường không cụ thể, nhưng có thể được thực hiện khi cần thiết để giúp loại trừ các bệnh khác. Kết quả phân tích chất lỏng hoạt dịch cho thấy một sự thay đổi viêm nhẹ. Mặc dù sự thay đổi này không cụ thể, nhưng nó giúp loại trừ quá trình nhiễm trùng. Xét nghiệm máu có thể có thiếu máu sắc tố tế bào dương tính, tăng bạch cầu, tăng tốc độ lắng hồng cầu hoặc tăng nồng độ-globulin trong huyết thanh, đôi khi dương tính với RF và ANA hoặc dương tính với kháng thể tế bào chất chống bạch cầu trung tính (ANCA) ở 25% bệnh nhân. Chức năng thận bất thường cho thấy sự hiện diện của viêm cầu thận liên quan. Một xét nghiệm c-ANCA dương tính (một ANCA chủ yếu đáp ứng với protease 3) cho thấy viêm đa giác dạng u hạt , và bệnh có thể có các biểu hiện tương tự.

   Khi chẩn đoán xác định bệnh, cần đánh giá các chức năng đường hô hấp trên và dưới, bao gồm xét nghiệm chức năng phổi toàn diện và chụp CT ngực.

Từ những kết quả chẩn đoán trên, bác sĩ sẽ có hướng điều trị chính xác và sẽ đạt được hiệu quả nhất.

 Các biểu hiện và biến chứng của bệnh viêm sụn vành tai.

Các biểu hiện phổ biến nhất là đau cấp tính, đỏ và sưng sụn vành tai. Nhưng khi đã biến chứng, bệnh nhân sẽ bị sưng mũi, kèm theo viêm khớp. Các tổn thương khớp bao gồm từ đau khớp đến viêm khớp không có triệu chứng hoặc không có triệu chứng liên quan đến khớp lớn và nhỏ, và đặc biệt dễ bị tổn thương sụn khớp và khớp gối.

   Các biến chứng biểu hiện lâm sàng phổ biến khác bao gồm viêm ở các vị trí sau, được xếp theo thứ tự tần số giảm dần:

   Mắt (ví dụ viêm kết mạc, viêm xơ cứng, viêm mống mắt, viêm giác mạc, viêm màng đệm)

   Mô sụn thanh quản, khí quản hoặc phế quản (gây khàn giọng, ho và đau sụn thanh quản)

   Viêm tai trong

   Hệ thống tim mạch (ví dụ như hở van động mạch chủ, suy van hai lá, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, phình động mạch chủ, viêm động mạch chủ)

   Thận, Da.

   Quá trình của bệnh được đặc trưng bởi sự phục hồi từ vài tuần đến vài tháng sau một cuộc tấn công cấp tính và các cuộc tấn công mãn tính lặp đi lặp lại trong vòng nhiều năm.

   Sự tiến triển của bệnh có thể dẫn đến biến chứng nặng nề như: Phá hủy cấu trúc sụn vành tai, dẫn đến sự biến dạng của vành tai, biến dạng sụn mũi, lồng ngực và các bất thường về thị giác, thính giác và chức năng tiền đình. Hẹp khí quản có thể gây khó thở, viêm phổi và thậm chí tắc khí quản. Có thể đi kèm với viêm mạch hệ thống (viêm mạch phân mảnh bạch cầu hoặc viêm đa giác mạc), hội chứng myelodysplastic hoặc khối u.

Cùng ch đề