Nguyên tắc điều trị bệnh viêm màng bồ đào12/05/2015 - 0
-
Tham gia 10/08/2015
Điều trị bất cứ bệnh nào đều phải tuân theo nguyên tắc là dựa trên cơ sở chẩn đoán nguyên nhân, tuy nhiên việc tìm ra nguyên nhân gây viêm màng bồ đào hiện tại là vấn đề nan giải. Vì vậy để điều trị viêm màng bồ đào là rất khó. Chỉ có một số ít trờng hợp có thể tìm thấy nguyên nhân gây bệnh nhờ vào cận lâm sàng như chọc tiền phòng lấy bệnh phẩm nuôi cấy phân lập, xét nghiệm tế bào học, tìm kháng thể trong huyết thanh... đa số bệnh nhân còn lại dựa trên biểu hiện lâm sàng, đặc điểm riêng trên từng bệnh nhân để thầy thuốc có hướng điều trị cho thích hợp. Sau đây là nguyên tắc chung điều trị viêm màng bồ đào.
1. Điều trị theo nguyên nhân: Khi tìm được nguyên nhân hoặc dựa vào biểu hiện lâm sàng thì dùng các thuốc đặc hiệu để điều trị. Ví dụ: Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ, thuốc chống virus, chống lao, chống nấm... nên phối hợp đường toàn thân và tại chỗ.
2. Thuốc giãn đồng tử, liệt thể mi: Đa số bệnh nhân viêm màng bồ đào đồng tử thờng co nhỏ, trong khi mống mắt đang bị viêm, xuất tiết. Vì vậy nguy cơ dính mống mắt với mặt trước thể thuỷ tinh là rất cao. Do đó việc dùng thuốc giãn đồng tử để chống dính là hết sức cần thiết. Hiện tại thuốc thường được dùng là dd Atropin 1-4%. Atropin có tác dụng ức chế thần kinh phó giao cảm, cụ thể là nhánh phó giao cảm của dây TK III do vậy cơ vòng mống mắt giãn ra giúp đồng tử giãn. Thờng lần đầu dùng dd Atropin 4% nhỏ mắt cho bệnh nhân, khi đồng tử giãn tối đa thì dùng dd Atropin 1% nhỏ ngày 1 lần để duy trì.
Cơ vòng thể mi cũng chịu tác dụng tương tự như cơ vòng mống mắt khi nhỏ dd Atropin. Vì vậy ngoài tác dụng chống dính, Atropin còn làm liệt điều tiết giúp giảm đau và mắt được nghỉ ngơi.
Khi dùng dd Atropin nhỏ mắt, cần bịt lỗ lệ để tránh thuốc xuống miệng gây ngộ độc như khô miệng, đỏ mặt, mạch nhanh...
3. Thuốc tách dính: Một số trường hợp mống mắt đã dính vào thể thuỷ tinh, do đó không đáp ứng khi nhỏ dd dịch Atropin, khi đó phải dùng hỗn hợp Adrenalin 1mg + Atropin sulphat 1/4mg tiêm dưới kết mạc vùng rìa tương ứng để tách dính. Nếu dính toàn bộ có thể tiêm 4 điểm 12h, 3h, 6h, 9h.
Chú ý: Thận trọng khi dùng cho bệnh nhân có bệnh tim mạch, tăng huyết áp.
4. Thuốc chống viêm: Hầu hết các thành phần trong mắt khi bị viêm đều dễ bị tổn thương và khó hồi phục. Vì vậy vai trò của thuốc chống viêm được đặt lên hàng đầu, đặc biệt là corticoid, trong viêm màng bồ đào corticoid được dùng tích cực bằng nhiều đường cùng 1 lúc: toàn thân có thể dùng Dexamethason 4mg 1-2 ống/ngày tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, Depecsolon 30mg 1-2 ống/ngày tiêm tĩnh mạch chậm; tại chỗ thường dùng Dexamethason 4mg x 1ml tiêm cạnh nhãn cầu; tra nhỏ các thuốc có chứa corticoid như dd Maxitrol, dd Dextobrin, dd Oclex... Liều lượng và thời gian dùng corticoid có thể cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ theo tình trạng bệnh.
Corticoid có nhiều tác dụng phụ như đau dạ dày, cao huyết áp, giảm sức đề kháng, loãng xương, đục TTT, glocom... nên cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc. Không dùng corticoid cho bệnh nhân viêm màng bồ đào do nấm hoặc có loét giác mạc.
Một số trường hợp chống chỉ định với corticoid có thể thay thế bằng các thuốc chống viêm nonsteroid như Indomethacin, Diclofenac...đường toàn thân, tra nhỏ nhưng hiệu quả kém hơn nhiều so với corticoid.
Các thuốc có tác dụng chống viêm, tiêu viêm, giảm phù nề dạng enzym như Hyase, Serratiopeptidase, Alphachymotrypsin... đường uống hoặc tiêm cũng có tác dụng đáng kể trong điều trị viêm màng bồ đào. Cơ chế tác dụng của các thuốc này là:
- Chống viêm và phù nề: làm cho tuần hoàn máu ở ổ viêm được tốt hơn do phá huỷ các chất xuất tiết và protein bất thường và thúc đẩy các chất phân giải trên qua thành mạch máu và bạch huyết.
- Tăng nhanh quá trình thải trừ sản phẩm viêm và lọc máu do làm lỏng các dịch tiết nhày, các nút fibrin và phân giải các chất đó.
Các thuốc này còn có tác dụng tăng cường nồng độ kháng sinh ở ổ viêm.
5. Thuốc ức chế miễn dịch: Các thuốc ức chế miễn dịch chủ yếu tiêu diệt hoặc ức chế các tế bào lympho là yếu tố gây viêm, các thuốc này thường gây độc cho tế bào và gây quá nhiều tác dụng phụ nên chỉ được dùng trong một số trường hợp đặc biệt liên quan tới yếu tố miễn dịch như: hội chứng Behcet, hội chứng Vogt-Koyanagi-Harada, nhãn viêm đồng cảm hay các viêm màng bồ đào không đáp ứng với corticoid.
6. Liệu pháp nhắm mục tiêu: Thuốc sinh học nhắm vào một số bộ phận của hệ thống miễn dịch của bạn để ngăn chặn viêm. Bạn có thể cần những thứ này nếu các phương pháp điều trị viêm màng bồ đào khác không đủ hiệu quả.
7. Thuốc giảm đau, an thần: Đây là các thuốc điều trị triệu chứng, các thuốc liệt thể mi như dd Atropin, dd Homatropin có tác dụng giảm đau tốt. Thuốc giảm đau tác dụng toàn thân có nhiều loại nhưng chỉ nên dùng thuốc có ít tác dụng phụ nhất như Paracetamol với liều lượng 20-30mg/kg thể trọng/24h chia 3-4 lần.
Nếu cần thiết, có thể cho thêm các thuốc an thần như Diazepam liều thông thường cho người lớn là 5-10mg vào buổi tối.
8. Thuốc điều trị hỗ trợ:
- Các thuốc đa sinh tố có chứa Vitamin A, B, C, E, PP... có tác dụng tốt cho mắt và nâng cao thể trạng, vì vậy cũng cần thiết khi điều trị bệnh mắt nói chung và viêm màng bồ đào nói riêng.
- Các thuốc hỗ trợ gan như: Fotex, Boganic, saganin...
- Trong viêm màng bồ đào, một số trường hợp nặng thuỷ dịch quá nhiều mủ vì vậy chất lượng nuôi dưỡng đối với giác mạc không đảm bảo. Khi đó cần cho bệnh nhân dùng các dd dinh dưỡng giác mạc tại chỗ như: dd Vitamin A, dd CB2, Sanlein, Oculotex...
9. Điều trị biến chứng: Biến chứng đầu tiên thường gặp cần xử trí kịp thời là tăng nhãn áp. Ngoài các thuốc giãn đồng tử, tách dính như đã nêu ở trên có thể dùng thêm Diuramid 250mg x 1-2 viên uống 1 lần trong ngày.
Các biến chứng khác như: đục TTT, cốt hoá dịch kính, thoái hoá giác mạc hình dải băng, bong võng mạc... cân nhắc phương pháp điều trị thích hợp sau khi bệnh đã yên.
10. Phẫu thuật, thủ thuật điều trị: Trong các hình thái nặng, nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh, có thể cân nhắc việc tiêm nội nhãn hoặc dùng kim 2 lòng rửa mủ tiền phòng bằng thuốc đặc hiệu pha loãng trong nước cất, dd RL, dd Nacl 9‰...
Trong viêm màng bồ đào có thể tiến hành một số phẫu thuật, thủ thuật nhằm mục đích chẩn đoán hay phòng bong võng mạc như: chích tiền phòng, sinh thiết dịch kính để tìm căn nguyên hoặc cắt dịch kính, laser phòng bong võng mạc.
Đa số các phẫu thuật còn lại là để điều trị biến chứng như: đục TTT, glocom, bong võng mạc...
11. Một số điểm lưu ý: Viêm màng bồ đào là một bệnh nặng, thái độ xử trí tích cực vì vậy cùng một lúc bệnh nhân phải dùng nhiều loại thuốc. Trong khi đó đa số các thuốc đều có nhiều tác dụng phụ không mong muốn đặc biệt như: Corticoid, thuốc ức chế miễm dịch, thuốc chống lao, chống nấm, kháng sinh, chống virus... Vì vậy trong quá trình điều trị cần cân nhắc thận trọng, tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Không lạm dụng thuốc, chỉ cho bệnh nhân dùng những thuốc thực sự cần thiết.
- Luôn theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân, làm các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, thận, các thành phần tế bào... định kỳ.
- Điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời theo tình trạng bệnh nhân.